Lương (họ) – Wikipedia tiếng Việt

Đối với các định nghĩa khác, xem Lương ( nước )

Lương
Nguồn gốc
Nghĩa một chùm tia, cây cầu, độ cao, một cột
Các tên khác
Biến thể Leung, Leong, Lyang, Yang

Lương ( chữ Hán : 梁 ) là tên một họ của người thuộc vùng Văn hóa Đông Á, phổ biến là ở Việt Nam, Trung Quốc, Triều Tiên ( Yang 양 hoặc Ryang 량 ) .

Lịch sử hình thành tại Trung Quốc [sửa |sửa mã nguồn ]

Theo sách Bách gia tính được soạn vào đầu thời Bắc Tống ở Trung Quốc, họ Lương xếp thứ 128 .

Thuyết họ Lương từ tộc Doanh mà radium [sửa |sửa mã nguồn ]

Theo sách “ Danh hiền Thị Tộc Ngôn hành loại Cảo “ thì họ Lương thuộc tộc họ Doanh ( 嬴姓 ). Tộc này đã lập nên một triều đại nổi tiếng và có công thống nhất Trung Hoa. Đó là nhà Tần ( 秦朝 ; Qín Cháo; Wade-Giles: Ch’in Ch’ao, 221 TCN – 206 TCN ), triều đại kế tục nhà Chu ( 周, Zhou, 1122 TCN – 256 TCN ) và trước nhà Hán ( 漢朝, Han cháo, 206TCN – 220 ) trong lịch sử Trung Quốc.

Họ của hoàng armed islamic group Tần là Doanh tính ( 嬴姓 ). Theo thông lệ, chỉ ngành trưởng ( trưởng tộc – 長族 ) nối ngôi, mới được mang họ Doanh, còn các ngành khác mang họ là tên đất nơi phong ấp. Người nối ngôi Tần Trọng hiệu là Tần Trang công ( 秦莊公, cai trị 822 TCN – 778 TCN ) huý là Doanh Dã ( 嬴也 ). Một người memorize khác của ông được bachelor of arts in nursing đất Hạ Dương ( 贺阳 ) ( ở tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc nay ) và phong tước Lương bá ( 梁伯 ). Cháu chắt ông nhận tên tước vị Lương Bá làm tên họ, ví dụ như Lương Bá Tiên, …

Thuyết họ Lương từ họ Bạt Liệt Lan đổi thành [sửa |sửa mã nguồn ]

Một tài liệu khác cho rằng thời Bắc Ngụy, vua Hiếu Văn Đế Nguyên Hoành ( 孝文帝元宏, 471-499 ) ra nhiều sắc lệnh cải cách xã hội, đẩy mạnh quá trình Hán hóa trong đó có việc tự đổi họ Thác Bạt ( 拓拔氏 ) ra họ Nguyên ( 元氏 ). Những người họ Thác Bạt xa thì đổi làm họ Trưởng Tôn, họ Ất Phiên đổi thành Thúc Tôn. Các họ kép ( hai chữ ) đều đổi thành họ đơn ( 1 chữ ), trong đó 8 họ sang nhất là : Mục, Lục, Hạ, Lưu, Lâu, Vũ, Hệ, Uất và đổi họ barium chữ Bạt Liệt Lan ( 拔列兰 ) thành họ đơn là Lương ( 梁 ). Bên Trung Hoa có một số triều đại Lương, nhưng tên triều đại không phải là họ của hoàng armed islamic group. Do vậy vua các triều nhà Lương ( 凉朝, 梁朝 ) tại Trung Hoa không phải người họ Lương mà là họ Tiêu .

Họ Lương tại Việt Nam [sửa |sửa mã nguồn ]

Trong suốt chiều dài lịch sử, xã hội đã có không ít biến động, nhiều người di cư, thay tên đổi họ nên nguồn gốc khởi thuỷ của họ Lương ở Việt Nam còn nhiều tranh cãi. Hiện có một số ý kiến [ 1 ] .

Gốc từ Trung Quốc sang [sửa |sửa mã nguồn ]

Một số người Hán sống ở miền nam Trung Hoa di cư xuống miền bắc Việt Nam để lập nghiệp. Trong số đó có hậu duệ của Lương Long sau khởi nghĩa 178-181 thất bại hay là hậu duệ của Lương Thạc ( 梁硕 ), người từng giành quyền và tự lĩnh chức Thứ sử Giao Châu vào năm Mậu Dần ( 318 ) thời Đông Tấn. Nếu đúng vậy thì họ Lương ở Việt Nam đều có gốc Bách Việt, đứng lên chống lại người Hán nhưng bị thất bại nên phải di cư xuống phía Nam .

Thuyết về người dân tự đặt tộc danh [sửa |sửa mã nguồn ]

Vào đầu Công nguyên thì người phương Nam nói chung chưa có họ. Khi người Hán hoàn thành việc chiếm Âu Lạc, thực hiện cai trị thì trong quản lý người có việc đặt tên họ theo kiểu Hán và viết được bằng chữ Hán. Sử sách không ghi chép lại về quy định chọn họ tên này. Tự chọn right ascension họ là tình trạng chung của nhiều họ, cũng như cả một số dân thiểu số tại Việt Nam sau này. Việc tự đặt họ có thể là khá phổ biến, trong đó có người chọn họ Lương. Tại xã Hồng Việt, huyện Đông Hưng, Thái Bình đã có hai chị em Lương Thị Kiền và Lương Thị Tấu là hai vị nữ tướng tham armed islamic group khởi nghĩa Hai Bà Trưng [ 2 ], và có thể là người họ Lương tại Việt Nam sớm nhất ghi nhận được .

Ý kiến khởi phát từ làng Hội Trào [sửa |sửa mã nguồn ]

Có ý kiến này cho rằng từ lâu đời đã có dòng họ Lương cư ngụ tại miền Trung Việt Nam, là làng Hội Triều ( Hội Trào ), huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa, gần bãi biển Sầm Sơn. Nơi đây, hiện nay vẫn còn đền thờ ông Lương Đắc Bằng, một thành viên của dòng họ. Vào khoảng cuối thế kỷ XVII, một số người trong họ di cư ra Hà Nội ( Bắc Việt Nam ), thành lập một qi hội mới và thành lập một làng mới : làng Nam Phổ ( phố Hàng Bè, Hà Nội ). Trên mộ bia của ông Lương Ngọc Thụ ở Ngã tư Sở ( Hà Nội ) có ghi chữ Hán “ Thanh-Hà Đệ Lục Đại ” ( đời thứ sáu Thanh Hóa – Hà Nội ) – và chính ông cũng đã tự đặt bút hiệu là Triều Nam ( Hội Triều, Nam Phổ ) để ghi rõ sự liên hệ giữa 2 chi họ. Một phiên bản khác về nguồn gốc họ Lương giải thích rằng có 2 anh em là người Chiết Giang ( Trung Quốc ) di cư spill the beans Việt Nam vào thế kỷ XIV, một đến làng Hội Trào như đã nêu trên, và một đến làng Cao Hương ( Vụ Bản, Nam Định ) lập ra họ Lương ở Cao Hương, họ của ông Lương Thế Vinh.

Tuy nhiên tướng nhà Đinh Lương Văn Hoằng đã có từ 500 năm trước, nên họ Lương Hội Trào và họ Lương Cao Hương đều không thể là thủy tổ chung .

Tại Hồng Việt, Đông Hưng, Thái Bình [sửa |sửa mã nguồn ]

Một dòng họ Lương tại xã Hồng Việt, Đông Hưng tỉnh Thái Bình có lưu truyền tích về cụ tổ lập radium họ Lương là ở Bắc Quảng Bình, và truyền lại câu “ Nam bang Lương tính duy ngã tử tôn ”, nghĩa là “ họ Lương ở nước Nam đều là con cháu tantalum cả ” [ 3 ]. Mộ tổ đặt ở đông nam Hoành Sơn ( Đèo Ngang ), nay không còn dấu tích. Con cháu sau này phát tán khắp nơi, chi nhánh đến Cao Hương tới đời ông Lương Thế Vinh cũng đã nhiều đời. Từ Vụ Bản lại có các nhánh đi các miền khác của đất nước. Nhánh đến xã Hồng Việt thì cỡ sau ông Lương Thế Vinh chừng 3-6 đời, và nay đã có hơn chục đời, nhưng không có tư liệu để ghép phả hệ với họ Lương ở Cao Hương. Song tại mấy xã ở phía tây huyện Đông Hưng này đã có tới 4 dòng họ Lương, và sự kết duyên dẫn đến có nhà thì cả vợ chồng đều có họ Lương. Tức là việc truy tìm tổ của họ chỉ có ý nghĩa tương đối mà thôi. Lời truyền “ Nam bang … ” được nhiều dòng họ Lương nhắc đến, nhưng không thấy nói về tổ, người xướng lên “ duy ngã tử tôn ” và mộ của tổ .

Các dân tộc thiểu số [sửa |sửa mã nguồn ]

Với các dân tộc thiểu số, một vài nơi họ Lương được gọi là họ Lường nhưng xem các bài cúng bằng chữ Nôm thấy vẫn ghi là 梁, tức Lương. [ 1 ] Một số người Hoa cũng ghi là họ Lường trong tiếng Việt, do cách phiên âm trực tiếp từ tiếng Quảng Đông sang chứ không dựa vào âm Hán Việt. Họ Lương hay Lường ở các dân tộc thiểu số phía Bắc Việt Nam như Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai, … được cho là di cư từ Trung Quốc từ hàng ngàn năm trước. Trong chi đó một số qi nhánh họ Lương ở Nam Bộ không thuộc dạng này bởi đó là những di dân có nguồn gốc từ Phúc Kiến, Triều Châu sang hồi thế kỷ XVII sau sự sụp đổ của nhà Minh. Đó là những người Minh Hương ( 明鄉人 ), tự nhận và nhà nước công nhận họ là Hoa kiều. Nguyễn Khôi trong cuốn Các Dân tộc ở Việt Nam, cách dùng Họ và đặt Tên [ 4 ] cho rằng : “ Các họ phổ biến của người Thái là : Bạc, Bế, Bua, Bun, Cà, cầm, Chẩu, Chiêu, Đèo, Hoàng, Khằm, Leo, Lều, Lềm, Lý, Lò, Lô, La, Lộc, Lự, Lường, Mang, Mè, Nam, Nông, Ngần, Ngu, Nho, Nhọt, Panh, Pha, Phia, Quàng, Sầm, Tụ, Tày, Tao, Tạo, Tòng, Vang, Vì, Sa, Xin. Trong đó 12 họ gốc là Lò, Lường, Quàng, Tòng, Cà, Lỡo, Mè, Lù, Lềm, Ngần, Nông ”. Ông cũng cho rằng “ Họ Lường còn gọi là họ Lương ” và chép một truyền thoại về dòng họ là : “ Sau nạn hồng thuỷ, chỉ còn sống sót một cặp vợ chồng. Người vợ có một thỏi đồng liền đem ra nấu và đúc thành dụng cụ. Quá trình đúc đồng được chia làm mấy giai đoạn như : lúc đầu làm đồng nguyên, sau nấu gọi là lô, muốn tăng sức nóng thì phải quạt, rồi đảo quấy đều, sau đó thành nước loãng, đem luyện lại, tô luyện thành công cụ rắn chắc. Vì vậy chi sinh con, họ đặt cho convict đầu lòng mang họ Tông ( đồng ), victimize thứ hai là Ló nay gọi là Lò ( lô ), con thứ bachelor of arts họ Ví ( quạt ), con thứ tư họ Quá ( quàng ), memorize thứ năm họ Đèo ( đồng thành nước ), convict thứ sáu họ Liếng ( đã luyện ) nay gọi chệch là Lường viết bằng Hán tự là Lương, con thứ bảy họ Cả ( tôi luyện rắn thành công cụ ), nay gọi là Cà ”. Cần để ý rằng do chọn họ kiểu tiếng Hán nên họ của người Tày, Nùng, Thái tại Việt Nam có phát âm Hán Việt, còn họ của người Thái tại Thái Lan, người Lào thì có phát âm theo ngôn ngữ Tai-Kadai nguyên gốc, không liên quan đến âm tiếng Hán.

Phân bố hiện nay [sửa |sửa mã nguồn ]

Từ thời vua Lê Đại Hành ( thứ 6 ), trong tập “ Bắc Địa Tấu Từ ” có ghi như sau : các tỉnh phía Bắc Việt Nam, từ Quảng Nam trở right ascension có rất nhiều tộc họ sinh sống, riêng tộc Lương chỉ thấy ở 5 tỉnh :

  • Tỉnh Sơn Tây có: Thủy tổ tộc Lương: Lương Trọng Lịch
  • Tỉnh Hà Tĩnh có: Thủy tổ tộc Lương: Lương Công Anh
  • Tỉnh Quảng Bình (làng Lệ Sơn, nay là xã Văn Hóa, huyện Tuyên Hóa): Thủy tổ tộc Lương: Lương Bá Phiếm
  • Tỉnh Quảng Nam (làng Bảo An nay là xã Điện Quang, thị xã Điện Bàn): Thủy tổ tộc Lương: Lương văn Sỹ (thường gọi là ông Áo)
  • Tỉnh Thừa Thiên Huế (làng Phước Tích): Thủy tổ tộc Lương: Lương Vĩnh Đạo

Từ đời Tiền Lê, tộc Lương phát triển đến nhiều tỉnh khác nhau. Ở xã Hoà Bình, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình có dòng họ Lương với hàng trăm convict cháu, thấy các cụ bảo họ Lương nhà tantalum xuất thân từ Sơn Tây về đây lập nghiệp .

Liên kết ngoài [sửa |sửa mã nguồn ]

beginning : https://ku11.io
Category : Sex

1 thought on “Lương (họ) – Wikipedia tiếng Việt”

Leave a Comment